Đất nước con người

Tôn Trung Sơn – Nhà cách mạng và người sáng lập Trung Hoa Dân Quốc

Cuộc đời của Tôn Trung Sơn - Nhà cách mạng đại tài

Tôn Trung Sơn là vị lãnh tụ vĩ đại của Trung Quốc. Ông là nhà cách mạng có công lớn khi sáng lập ra Trung Hoa Dân Quốc và có nhiều cống hiến cho nền chính trị Trung Hoa. Tôn Trung Sơn đã kết thúc sự lãnh đạo của người Mãn Thanh, mở ra một kỉ nguyên mới cho nhân dân Trung Quốc ở thế kỷ 20.

Hãy cùng tìm hiểu rõ hơn về Tôn Trung Sơn, trong bài viết dưới đây. Tôn Trung Sơn – Nhà cách mạng và sáng lập Trung Hoa Dân Quốc, đồng thời để lại di sản là “Ba nguyên tắc của nhân dân” góp phần rất lớn cho đường lối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc đời của vị lãnh tụ này trải qua rất nhiều thăng trầm, nhiều năm lưu vong đất khách mới có thể lập lên nhiều thành tựu được người đời tôn sùng, kính trọng. 

Tiểu sử về Tôn Trung Sơn

Tôn Trung Sơn người hoạt động cách mạng đại tài của Trung Quốc.

Tôn Trung Sơn nguyên danh là Tôn Văn, tự Tải Chi, hiệu Nhật Tân, Dật Tiên sinh ngày (12/11/1866 – 12/3/1925) là nhà triết học, bác sĩ và chính trị gia người Trung Quốc. Tôn Trung Sơn sinh ra tại làng Cuiheng, huyện Tương Sơn (nay là thành phố Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông từng là tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc và là nhà lãnh đạo đầu tiên của Quốc Dân Đảng (Đảng Quốc gia Trung Quốc). 

Tôn Trung Sơn được gọi là “Cha của dân tộc” tại Trung Hoa Dân Quốc do vai trò quan trong của mình trong việc lật đổ triều đại nhà Thanh trong cuộc Cách mạng Tân Hợi. Ông là người duy nhất trong số các nhà lãnh đạo Trung Quốc ở thế kỷ 20 được tôn kính rộng rãi ở cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan. 

Tôn Trung Sơn – Người Cách mạng và sáng lập Trung Hoa Dân Quốc được coi là một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của Trung Quốc hiện đại. Với sự nghiệp chính trị lẫy lừng, ông phải trải qua đời sống chính trị đầy những cuộc đấu tranh liên tục và phải thường xuyên lưu vong xa xứ. 

Sau thành công của cuộc cách mạng mà người Hán đã giành lại quyền lực sau 268 năm sống dưới triều đại Mãn Thanh, Tôn Trung Sơn nhanh chóng từ chức Chủ tịch nước Cộng hòa mới thành lập cho Yuan Shikai đi lưu vong ở Nhật Bản để đảm bảo an toàn. Sau đó, Tôn Trung Sơn quay trở lại thành lập một chính phủ cách mạng ở miền Nam nhằm thách thức các lãnh chúa kiểm soát phần lớn dân tộc. 

Năm 1923, ông mời đại diện của Quốc tế Cộng sản đến Canton đến để tổ chức lại đảng của mình, đồng thời thành lập một liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, sau đó, ông qua đời đột ngột tại Bắc Kinh vì ung thư túi mật vào ngày 12 tháng 3 năm 1925.

Di sản chính của Tôn Trung Sơn là triết lý chính trị có tên gọi là Ba nguyên tắc của nhân dân: Chủ nghĩa dân tộc (độc lập khỏi sự thống trị của đế quốc nước ngoài); Quyền của nhân dân (đôi khi được dịch là “dân chủ”); Sinh kế của người dân (đôi khi được dịch là “chủ nghĩa xã hội” Hay nghĩa đen là ” một nghiên cứu khoa học về việc giúp mọi người tồn tại trong xã hội).

Những dấu ấn lịch sử về Tôn Trung Sơn

Tôn Trung Sơn là người sáng lập Trung Hoa Dân Quốc.
  • Sinh ra vào ngày 12 tháng 11 năm 1866.
  • Năm 10 tuổi, Tôn Trung Sơn bắt đầu đi học và anh gặp người bạn thời thơ ấu Lưu Hạo Đông. 
  • Năm 13 tuổi, chuyển đến sống với anh trai là Sun Mei ở Honolulu. Người này đã tạo bước tiến lớn trong giáo dục cho Tôn Trung Sơn.
  • Năm 1883, Tôn Trung Sơn được gửi về Trung Quốc vì anh trai ông lo lắng rằng Tôn Trung Sơn đang cố gắng để giữ lấy chức Cơ đốc giáo. 
  • Năm 1883, lúc 17 tuổi, Tôn Trung Sơn gặp lại người bạn Lu Haodong, cả hai đập phá bức tượng Bắc Cực trong ngôi đền cổ vì không đồng ý với phương pháp chữa bệnh cổ xưa tại đây. Cả hai phải bỏ trốn sang Hồng Kông.
  • Khi ở Hồng Kông vào năm 1883, ông học tại Trường nam sinh của Giáo phận. Năm 1883, Tôn Trung Sơn trở về nước, theo học trường Đại học y khoa ở Hương Cảng và trở thành bác sĩ. Từ năm 1884 đến 1886, ông học tại Trường Chính phủ Trung ương.
  • Trong cuộc nổi dậy của triều đại nhà Thanh vào khoảng năm 1888, Tôn Trung Sơn đã hoạt động ở Hồng Kông với một nhóm các nhà tư tưởng cách mạng có biệt danh là Bốn tên cướp tại Đại học Y khoa Hồng Kông cho người Trung Quốc. Đây là nhóm người chống lại chính quyền nhà Thanh bảo thủ và từ chối tiếp thu kiến ​​thức từ phương Tây. 
  • Năm 1888, ông lần đầu tiếp xúc với Kitô giáo và bị ấn tượng sâu đậm. Chính Kitô Giáo đã khiến Tôn Trung Sơn có những thay đổi đầy ấn tượng về chính trị và có ý định cải tiến Trung Quốc.
  • Năm 1894, ông viết một bản kiến ​​nghị gồm 8.000 ký tự cho Qing Viceroy Li Hongzhang trình bày ý tưởng của mình để hiện đại hóa Trung Quốc.
  • Cùng năm 1894, Hội văn học Furen được hợp nhất tại Hồng Kông cùng Hiệp hội Trung Quốc hồi sinh. Sau đó, Tôn Trung Sơn trở thành thư ký, Yeung Ku-wan đứng đầu với tư cách là chủ tịch.
  • Ngày 26 tháng 10 năm 1895, nhóm đã lên kế hoạch phát động cuộc nổi dậy Quảng Châu đầu tiên chống lại nhà Thanh tại Quảng Châu.
  • Năm 1895, cuộc trỗi dậy thất bại, Tôn Trung Sơn phải lưu vong ở Hawaii, Kamaole, Kula, Maui.  
  • Vào ngày 22 tháng 10 năm 1900, Sun đã phát động cuộc nổi dậy Huệ Châu để tấn công Huệ Châu và chính quyền tỉnh ở Quảng Đôn nhưng vẫn vấp phải thất bại nặng nề buộc ông phải lưu vong đến Nhật Bản, châu Âu, Hoa Kỳ và Canada.
  • Năm 1896, ông bị giam giữ tại Legation Trung Quốc ở London, cơ quan mật vụ của Hoàng gia Trung Quốc nhằm lên kế hoạch đưa trở về Trung Quốc xử tử vì hành động phản chính phủ. Tuy nhiên, ông được thả vào 12 ngày sau.
  • Năm 1904, Tôn Trung Sơn ra đời Trục xuất những người man rợ Tatar (tức là Mãn Châu) để hồi sinh Trung Hoa, thành lập Cộng hòa và phân chia đất đai bình đẳng giữa mọi người.
  • Ngày 20 tháng 8 năm 1905, Tôn Trung Sơn đã hợp tác với sinh viên Trung Quốc học tập tại Tokyo, Nhật Bản thành lập nhóm thống nhất Tongmenghui (United League), nơi tài trợ cho các cuộc nổi dậy ở Trung Quốc.
  • Vào ngày 1 tháng 12 năm 1907, ông đã lãnh đạo cuộc nổi dậy Zhennanguan chống lại nhà Thanh tại Đèo Hữu nghị, biên giới giữa Quảng Tây và Việt Nam.
  • Năm 1907, có tổng cộng 4 cuộc nổi dậy thất bại bao gồm ở Huanggang, hồ bảy người phụ nữ Huệ Châu và Tần Châu. 
  • Vào ngày 27 tháng 4 năm 1911, nhà cách mạng Huang Xing đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy Quảng Châu lần thứ 2 nhưng thất bại.
  • Ngày 21 tháng 12 năm 1911, Tôn Trung Sơn đi thuyền trở về Trung Quốc.
  • Vào ngày 29 tháng 12 năm 1911, một cuộc họp của đại diện từ các tỉnh ở Nam Kinh đã bầu Tôn Trung Sơn làm “Tổng thống lâm thời”.
  • Vào ngày 12 tháng 2 năm 1912, Hoàng đế Puyi đã thoái vị ngai vàng.
  • Tôn Trung Sơn đã gửi điện tín cho lãnh đạo tất cả các tỉnh yêu cầu họ bầu và thành lập Quốc hội Trung Hoa Dân Quốc năm 1912.
  • Năm 1915 Yuan Shikai tuyên bố Đế quốc Trung Quốc (1915 191919) với chính mình là Hoàng đế của Trung Quốc, thời thế chính trị hỗn loạn, Tôn Trung Sơn trốn sang Nhật Bản.
  • Năm 1921, trước thời thế hỗn loạn và ý chí thống nhất đất nước, ông bắt đầu một chính phủ quân sự tự xưng tại Quảng Châu và được bầu làm Đại nguyên soái.
  • Vào ngày 10 tháng 10 năm 1919, Tôn Trung Sơn đã phục sinh Quốc dân Đảng với tên mới Chung-kuo Kuomintang hay “Đảng Quốc gia Trung Hoa”.
  • Sau nhiều năm hoạt động chính trị, thế trận chính trị đang diễn ra sôi nổi thì ông qua đời đột ngột tại Bắc Kinh vì ung thư túi mật vào ngày 12 tháng 3 năm 1925 để lại nhiều di sản cho dân tộc và thế giới.

Tôn Trung Sơn và những di sản to lớn

Trong suốt thời gian hoạt động cách mạng, Tôn Trung Sơn để lại rất nhiều di sản cho hậu thế.

Trong suốt quãng đời hoạt động cách mạng, Tôn Trung Sơn đã có nhiều cống hiến và để lại rất nhiều thành tựu cho thế hệ sau.

Đấu tranh quyền lực 

Sau cái chết của Tôn Trung Sơn, một cuộc đấu tranh quyền lực giữa thế hệ sau là Tưởng Giới Thạch và các đồng chí cách mạng cũ của ông đã chia rẽ Quốc dân Đảng. Năm 1927, Tưởng Giới Thạch kết hôn với Soong Mei-ling, em vợ Tôn Trung Sơn. 

Cộng sản và Quốc dân Đảng bị chia rẽ vào năm 1927 đánh dấu sự khởi đầu của Nội chiến Trung Quốc kéo dài qua Thế chiến II. Vợ Tôn Trung Sơn đứng về phía Cộng sản trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, bà là Phó Chủ tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là Chủ tịch danh dự ngay đến khi qua đời năm 1981.

Những cuộc nội chiến kéo dài bắt buộc Trung Quốc phải tìm ra người lãnh tụ đủ tài đức để thống nhất đất nước.

“Người cha của dân tộc”

Tôn Trung Sơn vẫn là người giỏi nhất trong số các nhà lãnh đạo Trung Quốc thế kỷ 20 vì tạo được lòng tin cao cả ở Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Tại Đài Loan, ông được coi là Cha của Trung Hoa Dân Quốc và được biết đến với cái tên là Cha của dân tộc. 

Ông có công rất lớn trong quá trình lật đổ triều đại Mãn Thành, xóa bỏ chế độ phong kiến và lập nên Trung Hoa Dân Quốc.

Phát triển kinh tế 

Tôn Trung Sơn người góp phần quan trọng trong cuộc cải tiến toàn diện Trung Quốc.

Tôn Trung Sơn đã dành nhiều năm ở Hawaii vào cuối những năm 1870 và đầu những năm 1880 để tìm hiểu về sự phát triển kinh tế tại đây. Ông đã sử dụng Vương quốc Hawaii độc lập như một hình mẫu để phát triển tầm nhìn của mình đến Trung Quốc hiện đại về công nghệ, độc lập về chính trị và chủ động chống đế quốc. 

Có thể nói, Tôn Trung Sơn là nhà tiên phong quan trọng của sự phát triển quốc tế tại Trung Quốc trong những năm sau Thế chiến II. Ông tập trung vào Trung Quốc với tiềm năng to lớn và cơ sở của hầu hết các doanh nhân địa phương, ffề xuất quan trọng của ông là chủ nghĩa xã hội. 

“Nhà nước sẽ tiếp quản tất cả các doanh nghiệp lớn; chúng tôi sẽ khuyến khích và bảo vệ các doanh nghiệp được ủy thác hợp lý cho người dân; Quốc gia sẽ sở hữu bình đẳng với các quốc gia khác; mỗi người Trung Quốc sẽ bình đẳng với mọi người Trung Quốc khác cả về chính trị và cơ hội phát triển kinh tế của mình”.

Quan niệm về chủ nghĩa xã hội, công bằng trong phát triển kinh tế từ Tôn Trung Sơn đã đóng góp to lớn cho bước tiến kinh tế tại Trung Quốc thời kỳ dân quốc.

Tại Trung Quốc, Tôn Trung Sơn được mệnh danh là “Cách mạng tiên hành giả” tức người tiên phong cho cách mạng. Ông có nhiều đóng góp to lớn, không chỉ hoạt động chính trị sôi nổi mà còn là người thành lập Trung Hoa Dân Quốc, tạo bước tiến đáng kể cho sự cải tiến Trung Quốc về chính trị, văn hóa, kinh tế, đối ngoại.

Xem thêm

Bài viết liên quan

Back to top button
Close